Chỉ xác – Chỉ thực

Bác sĩ phụ trách

Bác sĩ Phạm Thị Minh Dương

Bác sĩ

Chỉ xác – Chỉ thực là dược liệu chỉ chung các loại quả của nhiều cây khác nhau hoặc quả của cùng một cây nhưng khác thời kỳ. Dược liệu có mùi thơm, vị đắng, hơi chua thường được dùng để trừ đờm, táo thấp, lợi tiểu tiện, ra mồ hôi, hỗ trợ hoạt động của hệ thống tiêu hóa.

chỉ xác có tác dụng gì
Hình ảnh Chỉ xác – Chỉ thực: Vị thuốc vị đắng, hơi chua thường được sử dụng để trừ đờm, tiêu thấp

  • Tên gọi khác: Trấp, Chấp, Kim quất, Chỉ thiệt, Chanh xác, Khô chanh, Đổng đình, Phá hông chùy
  • Tên khoa học: Fructus ponciri Immaturi hoặc Fructus citri Aurantii
  • Họ: Cam – Rutaceae

Mô tả dược liệu Chỉ xác – Chỉ thực

1. Đặc điểm sinh thái

Tại Việt Nam, Chỉ xác – Chỉ thực thường được bào chế từ quả cây Trấp. Cây Trấp là cây gỗ nhỏ cao khoảng 2 – 10 mét, thân nhẵn, không có gai hoặc gai ngắn, thẳng. Lá cây hình trái xoan, mọc so le, phiến lá dài, góc tròn, đầu tù đôi khi hơi lõm vào, đầu lá hơi có răng cưa, hai mặt lá nhẵn, mặt trên thường bóng.

Cụm hoa Trấp thường mọc thành chùm, mỗi chùm thường có 6 – 8 hoa nhỏ. Hoa thường mọc ở các kẽ lá, có màu trắng hoặc vàng nhạt, có 5 lá dài, 5 cánh hoa và 20 nhị. Quả Trấp hình cầu, có núm, vỏ ngoài sần sùi, quả chín có màu vàng nhạt, ruột vàng lục, vị rất chua.

Mùa hoa vào tháng 2 – 4, mùa quả vào tháng 5 – 8.

chỉ xác dược liệu
Thu hái quả Trấp vào tháng 5 – 6 hoặc 9 – 10 để bào chế dược liệu

2. Bộ phận sử dụng dược liệu

Quả chín của Trấp được sử dụng để làm dược liệu.

3. Phân bố

Chỉ xác là vị thuốc có nguồn gốc từ Ấn Độ, Malaysia, sau đó lan rộng ra các nước Đông Nam Á bao gồm Việt Nam và miền nam Trung Quốc.

Tại Việt Nam, Trấp mọc hoang và được trồng tại nhiều tỉnh ở miền Bắc. Cây thường được tìm thấy ở các tỉnh thành như Hà Nam, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình và một số nơi khác.

4. Thu hái – Sơ chế

Thu hái Trấp vào tháng 9 – 10 khi quả gần chín, có đường kính từ 3 – 5 cm, phơi khô khi trời khô ráo (Chỉ xác). Hoặc có thể hái những quả xanh vào tháng 5 – 6 lúc trời khô ráo, thu nhặt các quả non, rụng dưới gốc cây, bổ đôi, phơi khô (Chỉ thực).

Bào chế dược liệu Chỉ xác – Chỉ thực:

  • Chỉ xác: Quả thu hái về khi chưa chín, ngâm nước cho mềm, bỏ phần thịt quả và hạt bên trong, sau đó thái mỏng, phơi khô, trộn nếp hoặc cám, sao vàng cho đến khi cám cháy đen. Bỏ phần cám chỉ lấy phần Chỉ xác, bảo quản dùng dần. Chỉ xác để càng lâu dược tính càng mạnh, chất lượng càng cao.
  • Chỉ thực: Những quả Trấp có đường kính dưới 1 cm thì để nguyên còn quả trên 1 cm thì bổ đôi theo chiều ngang, rửa sạch, ngâm nước cho mềm, bỏ phần thịt và hạt quả, chỉ lấy phần vỏ ngoài, thái nhỏ, phơi khô. Sau lại sao với nếp hoặc cám, đến khi cháy đen thì thu phần Chỉ thực, bỏ phần cám, bảo quản dùng dần. Tương tự như Chỉ xác, Chỉ thực để càng lâu năm càng tốt.

5. Bảo quản dược liệu

Chỉ xác và Chỉ thực cần được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh độ ẩm cao để không gây nấm mốc dược liệu.

6. Thành phần hóa học

Thành phần hóa học của Chỉ xác và Chỉ thực chủ yếu là:

  • Tinh dầu
  • Hesperidin
  • Neohesperidin
  • Pectin

Vị thuốc Chỉ xác – Chỉ thực

vị thuốc chỉ thực
Vị thuốc Chỉ thực bào chế từ quả Trấp thu hái khi còn non

1. Tính vị

  • Vị cay, đắng (theo Dược Tính Bản Thảo)
  • Tính hơi hàn, vị đắng (theo Trung Dược Học)
  • Tính hàn, vị đắng (theo Bản Kinh)
  • Tính hơi hàn, không chứa độc, vị chua (theo Biệt Lục)
  • Tính hơi lạnh, có vị đắng (theo Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)
  • Tính hơi hàn, vị đắng (theo Trung Dược Học)

2. Quy kinh

  • Kinh Vị, Tỳ (theo Trung Dược Học)
  • Kinh Tỳ, Vị (theo Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)
  • Kinh Tỳ, Vị (theo Bản Thảo Kinh Sơ)
  • Kinh Tỳ, Can (theo Bản Thảo Tái Tân)
  • Kinh Tỳ Tâm (theo Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải)

3. Tác dụng dược lý

Theo y học hiện đại Chỉ xác – Chỉ thực có một số tác dụng như:

  • Cường tim, tăng huyết áp nhưng không làm tăng nhịp tim. Chỉ thực còn làm tăng lưu lượng máu đến động mạch vành, não, thận tuy nhiên máu ở động mạch đùi sẽ bị giảm.
  • Ức chế cơ trơn của ruột, chống co thắt dạ dày và làm tăng nhu động ruột.
  • Làm tăng hoạt động của tử cung ở cả phụ nữ có thai và chưa có thai.

Theo y học cổ truyền, tác dụng của Chỉ xác – Chỉ thực như sau:

  • Tan đờm, hành khí trệ, dẫn khí đi qua đường đại tiện (theo Trung Dược Học)
  • Hoa khiếu, tả khí, tả đờm (theo Bản Thảo Diễn Nghĩa)
  • Khai đạo kiên kết, tả vị thực, tiêu đờm tích, thông tiện bí, khứ đình thủy, phá kết hung (theo Dược Phẩm Hóa Nghĩa)
  • Tiêu tích, tả đàm, trừ bỉ tích, hành khí, phá khí (theo Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

Chỉ định điều trị:

  • Chỉ xác: Làm tan các chất kết lưu trong bụng, tiêu đầy trướng, yên dạ dày, tiêu đờm trệ ở ngực, phong nhập và đại tràng.
  • Chỉ thực: Chữa ngực bụng căng tràn, đại tiện không thông, thực tích đàm trệ.

4. Cách dùng – Liều lượng

Chỉ xác và Chỉ thực được sử dụng dưới dạng thuốc sắc hoặc tán thành bột mịn, có thể dùng độc vị hoặc kết hợp với các vị thuốc khác.

Liều dùng khuyến cáo: 4 – 12 g mỗi ngày.

Bài thuốc sử dụng Chỉ xác – Chỉ thực

chỉ xác chỉ thực
Chỉ xác – Chỉ thực có thể dùng độc vị hoặc dùng kết hợp với các vị thuốc khác

1. Chữa trẻ nhỏ tiêu ra cơm nước không đều, lỵ lâu ngày không khỏi

Sử dụng 4 – 8 g Chỉ xác tán thành bột mịn, dùng pha với nước, uống mỗi ngày.

2. Thuận khí, cầm lỵ

Dùng 96 g Chỉ xác sao, 24 g Cam thảo, tán thành bột mịn, trộn đều. Mỗi lần sử dụng 8 g uống với nước ấm.

3. Chữa chứng khó tiêu ở trẻ nhỏ

Dùng Chỉ xác nướng kết hợp với Cam thảo, mỗi vị 4 g, sắc thành nước, dùng uống.

4. Chữa răng đau nhức

Dùng một lượng vừa đủ Chỉ xác – Chỉ thực, ngâm rượu, dùng để súc miệng.

5. Trị lở loét sưng đau

Bài thuốc thứ nhất: Sử dụng Chỉ xác nướng nóng chườm vào chỗ đau.

Bài thuốc thứ hai: Sử dụng bột nghiền Chỉ xác, bỏ vào bình nấu sôi thật lâu, sau đó dùng rửa vùng da bệnh.

6. Chữa nấc cụt do phong hàn, cảm mạo

Dùng chỉ xác 20 g, Mộc hương 4 g, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 4 g với nước sôi.

7. Điều trị ruột xệ xuống khi sau sinh sản

Dùng Chỉ xác sắc lấy nước, dùng ngâm.

8. Chữa phụ nữ đau bụng dữ dội khi mang thai

Dùng 120 g Chỉ xác (sao qua cám), 40 g Hoàng cầm, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 20 g với 1.5 chén nước. Nếu bụng phù căng thì có thể cho thêm 40 g Bạch truật.

9. Trị trẻ con động kinh, co giật, nghẹt đờm, nôn mửa

Sử dụng Chỉ xác bỏ múi và Đạm đậu khấu, mỗi vị phân lượng bằng nhau, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 1/2 muỗng cà phê, trường hợp nặng thì dùng 1 muỗng.

Nếu giật kinh phong cấp thì sử dụng Bạc hà giã nát, chắt lấy nước, dùng uống kèm thuốc. Nếu giật kinh phong mạn tính thì dùng Kinh giới nấu với 3 – 5 giọt rượu, uống kèm thuốc. Mỗi ngày uống thuốc 3 – 5 lần.

10. Chữa thương hàn do âm chứng, uống sai thuốc gây tức ngực nhưng không đau

Sử dụng Chỉ xác, Binh lang, mỗi vị phân lượng bằng nhau, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 12 g với nước sắc Hoàng liên.

11. Chữa trẻ nhỏ có mụn nhọt mềm, trong chứa dịch

Sử dụng 1 trái Chỉ xác lớn, mài cho bằng miệng, rồi dùng Hồ miến thoa quanh miệng dược liệu. Sau đó dùng úp dược liệu lên đầu mụn nhọt có thể ra hết máu, mủ và không để lại sẹo.

12. Hỗ trợ sáng mắt, làm lợi khí

Dùng 40 g Chỉ xác, sao đen, tán bột, dùng uống với nước.

13. Điều trị đầy hơi chướng bụng, khí huyết ngưng trệ

Sử dụng bài thuốc Tứ Diệu Hoàn bao gồm 160 g Chỉ xác (lưng còn xanh, bỏ múi) chia thành 4 phần. 40 g sao với Thương truật, 40 g sao với Hồi hương, 40 g sao với La bặc, 40 g sao với Can tất. Sau khi sao thì bỏ các vị thuốc đi, chỉ giữ lại Chỉ xác, tán bột, trộn đều, gia thêm nước trọn bột gạo làm thành viên hoàn kích thước bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần dùng uống 50 viên với nước cơm, sau khi ăn.

14. Chữa tiêu ra máu

Dùng 240 g Chỉ xác (sao đen với cám), 240 g Hoàng kỳ, tán thành bột. Mỗi lần dùng uống 8 g với nước cơm hoặc trộn với hồ làm thành viên hoàn.

15. Chữa xương sườn đau nhức

Dùng 40 g Chỉ xác, Đào chi 20 g, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng 4 g uống với nước sắc Gừng và Táo.

16. Tiêu tích, thuận khí, ngũ tích lục tụ

Dùng 3 cân Chỉ xác (bỏ múi và hạt). Mỗi trái Chỉ xác cho 1 hạt Ba đậu nhân vào, úp kín, nấu lửa nhỏ trong 1 ngày. Khi cạn nước thì đổ nước thêm, khi thêm cần thêm nước nóng, nấu đến khi cạn. Sau đó bỏ hạt Ba đậu đi, lấy phần Chỉ xác phơi nắng, sao khô, tán bột, gia thêm giấm gạo là, thành viên hoàn to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần dùng uống 30 – 40 viên.

17. Chữa đau nhức trong ngực, đau cứng ngay dưới tim, đau xóc từ xương sườn đến tim

Dùng 4 quả Chỉ thực (càng lâu năm càng tốt), 120 g Hậu phác, Qua lâu 1 trái, 240 g Phỉ bạch, 30 g Quế, 5 thăng nước. Đầu tiên, sắc Chỉ thực và Hậu phác, lấy nước bỏ bã, sau đó xong cho các vị thuốc còn lại vào sắc thành thuốc, chia làm 3 lần uống trong ngày.

18. Chữa bôn đồn khí thống

Dùng Chỉ thực sao đen, tán bột. Mỗi ngày uống 12 g, ngày uống 3 lần, đêm uống 1 lần.

19. Chữa phong chẩn ngoài da

Sử dụng Chỉ thực tẩm với giấm gạo, sao vàng, chườm vào bùng da bệnh.

20. Chữa lỵ gây sa trực tràng

Sử dụng Chỉ thực, mài đá nhẵn một mặt, sao vàng với mật ong, chườm đến khi trực tràng rút lên.

21. Chữa âm hộ đau sưng

Sử dụng 240 g Chỉ thực, giã nát, sao vàng, gói trong vải sạch, chườm lên chỗ đau. Khi nguội thì sao nóng và chườm lại đến khi hết đau.

22. Chữa trĩ kinh niên ở trẻ em

Dùng Chỉ thực tán thành bột mịn, luyện với mật ong làm thành viên hoàn. Mỗi lần dùng uống 30 viên uống lúc đói.

23. Trị táo bón

Dùng Chỉ thực, Tạo giáp, mỗi vị phân lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, trộn với hồ, làm thành viên hoàn to bằng hạt ngô, dùng uống.

Kiêng kỵ và lưu ý khi sử dụng Chỉ xác – Chỉ thực

Kiêng kỵ:

  • Tỳ vị hư yếu, hàn mà không có thấp tích không nên dùng.
  • Phụ nữ có thai mà thân thể gầy yếu không dùng.
  • Không có khí trệ thực tà không nên dùng.

Lưu ý khi sử dụng: Chỉ xác và Chỉ thực có thành phần và tính chất tương tự nhau, tuy nhiên thu hái ở các thời điểm khác nhau. Về dược tính, trước khi Chỉ xác – Chỉ thực không phân biệt nhưng dược tính của Chỉ xác thường yếu hơn.

Chỉ thực – Chỉ xác là vị thuốc quý được ứng dụng trong nhiều bài thuốc y học cổ truyền. Mặc dù vị thuốc không độc nhưng người bệnh nên trao đổi với thầy thuốc trước khi sử dụng để đảm bảo hiệu quả và an toàn của bản thân.

Xem thêm: 

Chia sẻ:

Cây muồng trâu

Cây muồng trâu là loài thực vật mọc hoang nhiều ở các tỉnh của nước ta. Các bộ phận của cây đều có tác dụng dược lý và được sử…

Bán biên liên

Bán biên liên là dược liệu có vị ngọt cay, tính bình, chủ trị rắn độc cắn, nhọt độc, tiểu khó, sốt rét, viêm tai giữa... Vị thuốc này có…

Bạch đàn trắng

Bạch đàn trắng là dược liệu thường được sử dụng để bào chế thuốc kháng khuẩn đường hô hấp và một số bệnh lý ngoài da. Ngoài ra, dược liệu cũng…

Bạch biển đậu

Bạch biển đậu (đậu ván) được xếp vào nhóm thuốc bổ khí cùng với bạch truật, hoài sơn, đường quy, đảng sâm, nhân sâm và hoàng kỳ. Vì vậy đậu…

Giải đáp thắc mắc của độc giả cùng chuyên gia của chúng tôi!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bác sĩ phụ trách

Bác sĩ Phạm Thị Minh Dương

Bác sĩ

[ads_sidebar]
Xem nhiều

Đặt câu hỏi

Chia sẻ
Bỏ qua